Saturday, October 5, 2013

Matilda -- Chapters 3 & 4



CÁI NÓN VÀ KEO SIÊU DÍNH

            Sáng hôm sau, ngay trước khi bố rời nhà tới cái ga-ra xe cũ tởm lợm, Matilda lẻn vào phòng để áo khoác và túm lấy chiếc nón ông ta thường đội đi làm hằng ngày. Cô phải nhón chân hết cỡ, tay cầm thêm cây ba-toong, mới khều được nó ra khỏi móc. Bản thân chiếc nón là loại có phần đỉnh bằng, đáy dày như món bánh nhân thịt lợn, còn vành thì đính một chiếc lông chim giẻ cùi, và Ông Wormwood rất tự hào về nó. Ông ta nghĩ nó tạo cho mình dáng vẻ ngang tàng táo tợn, đặc biệt khi ông đội nghiêng nó đi kèm với chiếc áo vét kẻ sọc và cà vạt xanh lục.
            Matilda, một tay cầm nón, một tay cầm lọ keo Siêu dính, bắt đầu bôi một đường thật gọn quanh rìa trong chiếc nón. Rồi cô cẩn thận dùng cây ba-toong treo nó trở lại móc. Cô tính giờ thật kỹ, để kịp bôi keo trước khi bố dùng xong bữa sáng.
            Ông Wormwood không để ý gì khi đội nón lên, nhưng khi tới ga-ra thì ông không thể cởi nó ra. Siêu dính là loại keo cực dính, dính tới nỗi nó sẽ kéo tuột da ra nếu bạn lôi quá mạnh. Ông Wormwood không muốn bị trọc đầu nên phải đội nón cả ngày, ngay cả lúc tra mùn cưa vào hộp số và dùng khoan điện vặn lùi số dặm đường đi của xe. Để giữ thể diện, ông làm bộ tự nhiên, với hi vọng đám nhân viên nghĩ rằng ông cố tình đội nón cả ngày chỉ để, quỷ tha ma bắt nó đi, cho vui mà thôi, kiểu mấy tay găng-tơ hay làm trong phim ảnh ấy mà.
            Tối đó, khi về lại nhà, ông vẫn không cởi nón ra được. “Đừng ngốc thế,” vợ ông ta bảo. “Lại đây. Em sẽ lấy nó ra cho anh.”
            Bà ta giật mạnh chiếc nón. Ông Wormwood hét ầm lên tới nỗi kính cửa kêu lạo xạo. “Ối!” ông ta hét. “Đừng làm thế! Bỏ ra đi! Em lột một nửa da trán của anh ra mất!”
            Matilda, đang rúc mình trong chiếc ghế thường lệ, thích thú ngó xem tấn tuồng qua rìa cuốn sách.
            “Chuyện gì thế bố?” cô bé hỏi. “Đầu bố bỗng sưng lên hay bị gì thế?”
            Ông bố liếc nhìn con gái bằng ánh mắt nghi ngờ, song không nói gì. Sao ông ta làm thế được nhỉ? Bà Wormwood bảo chồng. “Hẳn là keo Siêu dính rồi. Không thể thứ khác được. Chuyện này dạy cho anh bài học về việc nghịch ngợm với mấy thứ tởm lợm ấy nhé. Em mong anh sẽ đính thử cái lông khác lên nón.”
             “Anh không rớ tới mấy thứ nóng rãy ấy!” Ông Wormwood hét lên. Ông ta quay lại, nhìn Matilda lần nữa, kẻ đang nhìn ông bằng đôi mắt nâu to tướng vô tội.
           Bà Wormwood bảo chồng, “Anh nên đọc kỹ nhãn dán trên lọ trước khi dùng mấy thứ nguy hiểm ấy. Luôn phải làm theo hướng dẫn trên đó.”
            “Cô nói cái quái gì thế hở con đàn bà ngu ngốc kia?” Ông Wormwood hét lên, tay nắm chặt vành mũ để không cho ai lôi nó ra khỏi đầu mình lần nữa. “Bộ cô nghĩ tôi ngu tới mức đi bôi keo dính thứ này vào đầu mình hả?”
            Matilda nói, “Có thằng bé dưới phố đã bôi ít keo Siêu dính vào đầu ngón tay mà không biết đấy, sau đó nó còn dùng tay ngoáy mũi.”
            Ông Wormwood nhảy lên. “Chuyện gì xảy ra với nó?” ông ta lắp bắp.
            “Ngón tay dính chặt vào mũi,” Matilda đáp. “và nó cứ thế đi loanh quanh suốt một tuần liền. Ai gặp cũng bảo, ‘Đừng ngoáy mũi nữa,’ nhưng nó chả làm được gì. Trông nó như thằng cực ngốc ấy.”
            “Đáng đời nó,” Bà Wormwood nói. “Từ đầu lẽ ra nó đừng dùng tay ngoáy mũi. Đấy là thói quen bẩn thỉu. Nếu bọn trẻ đều bị bôi keo Siêu dính vào tay thì chúng phải sớm từ bỏ thói quen ấy thôi.”
            Matilda đáp, “Người lớn cũng thế mà mẹ. Con thấy mẹ hôm qua làm thế trong bếp.”
            “Mày đủ rồi đấy,” Bà Wormwood bảo, mặt hồng cả lên.
            Ông Wormwood phải đội nón trên đầu suốt bữa tối trước ti-vi. Ông ta trông thật ngớ ngẩn và lặng như tờ.
            Khi lên giường, ông ta lại thử gỡ nó ra, bà vợ cũng giúp, song chiếc nón chả nhúc nhích gì. “Tôi làm sao tắm được đây?” ông ta gặng hỏi.
            “Anh sẽ tắm mà không đội nón, đúng không?” bà vợ bảo. Để rồi sau đó, khi nhìn ngó ông chồng bé nhỏ gầy gò của mình lỉnh vào nhà tắm trong bộ áo ngủ sọc tím cùng chiếc nón hình bánh nhân thịt lợn trên đầu, bà ta nghĩ, ông trông thật ngu ngốc. Bà tự nhủ, đây là kiểu đàn ông khó có bà vợ nào thèm mơ tới.
            Ông Wormwood phát hiện ra rằng, điều tệ hại nhất của việc đội một chiếc nón thường trực trên đầu là phải ngủ với nó. Nằm thoải mái trên gối là điều không làm được. “Giờ đừng làm ồn nữa,” bà vợ bảo chồng sau khi ông ta hết lăn tới lăn lui lại trở mình qua lại suốt một giờ đồng hồ. “Em mong sáng ra nó sẽ lỏng bớt và rơi ra dễ dàng.”
            Nhưng sáng hôm sau chiếc nón vẫn không lỏng bớt và chả chịu rơi ra. Vì thế Bà Wormwood bèn dùng kéo, cắt phăng đi phần nón bám quanh đầu chồng, từng tí từng tí một, đầu tiên là đỉnh, rồi tới vành nón. Nơi rìa trong chiếc nón bám quanh đầu và sau ót chồng, bà phải cắt sát đến độ cuối cùng ông ta có một vòng tròn trọc lóc quanh đầu, trông hệt anh thầy tu. Còn phía trước, nơi rìa ngoài chiếc nón bám rịt vào da, thì dính lại vô số đốm da thuộc lấm chấm màu nâu, không tài nào gột được.
            Lúc ăn sáng Matilda bảo bố, “Bố cố làm sạch mấy mẩu da kia khỏi trán đi, bố ạ. Chúng làm bố trông như bị đám bọ màu nâu bò lên người ấy. Mọi người sẽ nghĩ bố bị bệnh chấy rận mất.”
            “Im!” ông bố cắn cảu. “Ngậm ngay cái mồm bẩn thỉu của mày lại!”
            Nhìn chung đó là bài diễn tập tốt. Song chắc chắn sẽ có quá nhiều hi vọng khi cho rằng nó dạy ông bố kia một bài học bền lâu.

CON MA
           
            Có một sự im lặng tương đối trong hộ nhà Wormwood suốt một tuần sau vụ keo Siêu dính. Vụ này uốn nắn Ông Wormwood đâu ra đấy nên ông ta hình như tạm thời mất đi dáng điệu khoe khoang, bắt nạt của mình.
            Nhưng thình lình ông ta bật trở lại. Có lẽ ông ta đã có một ngày tệ hại ở ga-ra, và bán không đủ số xe cũ kỹ rởm rít. Có nhiều điều khiến một gã đàn ông nổi đóa khi hắn từ chỗ làm trở về nhà vào buổi tối và một bà vợ khôn ngoan thường nhận ra điều đó – dấu hiệu trời chuyển giông, và biết mình nên để chồng ở một mình cho tới khi hắn ta nguôi giận.
            Khi Ông Wormwood từ ga-ra xe trở về nhà tối hôm đó, mặt ông ta trông như đám mây sấm, và ai đó rõ ràng sẽ sớm phải nhảy dựng lên. Bà vợ nhận ngay ra dấu hiệu giông bão, liền lánh đi. Ông chồng bước vào phòng khách. Matilda tình cờ đang ở đó, rúc mình trong chiếc ghế bành ở góc phòng, hoàn toàn nhập tâm vào cuốn sách. Ông Wormwood bật ti-vi lên. Màn hình lóe sáng. Chương trình ré lên. Ông ta nhòm sang Matilda. Cô không động đậy. Bằng cách nào đó cô đã luyện cho mình cách bưng tai bịt mắt trước tiếng động khủng khiếp phát ra từ chiếc ti-vi đáng sợ. Cô tiếp tục đọc sách, và vì lý do nào đấy, việc này làm ông bố nổi điên. Có lẽ cơn giận của ông ta tăng lên là do ông nhận thấy nơi cô niềm vui sướng có được từ thứ gì đó vượt quá khả năng của ông.
            “Mày không lúc nào dừng đọc được sao?” ông ta cắn cảu.
            “Ồ chào bố,” cô vui vẻ nói. “Hôm nay bố làm việc tốt chứ?”
            “Thứ rác rưởi này là gì vậy?” ông ta hỏi, giật lấy cuốn sách từ tay cô bé.
            “Nó không phải rác rưởi đâu, bố ạ, nó hay lắm. Tên nó là Chú ngựa nhỏ màu đỏ. Sách của John Steinbeck, một nhà văn Mỹ. Sao bố không thử xem? Bố sẽ thích nó đấy.”
            “Đồ cùi hủi,” Ông Wormwood đáp. “Nếu do một thằng người Mỹ viết ra, thì dĩ nhiên nó là đồ cùi hủi. Đó là thứ bọn chúng viết ra mà.”
            “Không, bố ơi, nó tuyệt lắm, thật đấy. Nó nói về…”
            “Tao không muốn biết nó nói về cái gì,” Ông Wormwood gầm lên. “Tao ngán việc mày đọc sách lắm rồi. Đi tìm thứ gì đó hữu dụng mà làm,” Rồi đột nhiên ông ta bắt đầu nắm từng mớ trang sách mà xé và quẳng chúng vào thùng rác.
            Matilda lặng đi vì sợ. Ông bố vẫn tiếp tục. Rõ ràng không còn nghi ngờ gì nữa, gã đàn ông này đang thấy có chút gì đó ghen tị. Sao nó dám, ông ta như nói với từng mớ sách bị xé, sao nó dám thích thú đọc sách khi mà mình thì không? Sao nó dám chứ?
            “Đó là sách thư viện!,” Matilda hét lên. “Không phải sách của con! Con phải trả nó cho Bà Phelps!”
            “Vậy mày phải đi mua cuốn khác, đúng không?” Ông bố đáp, tay vẫn xé sách. “Mày phải để dành tiền tiêu vặt tới khi đủ mua một cuốn mới cho Bà Phelps yêu quý của mày, đúng không?” Tới đó ông ta thả cái bìa sách rỗng không xuống thùng rác và sải bước ra khỏi phòng, để lại chiếc ti-vi đương gào rú.
            Đa phần trẻ em ở vào trường hợp Matilda sẽ òa khóc. Song cô bé không làm thế. Cô ngồi im đó, mặt trắng nhợt, đầu suy nghĩ. Cô dường như hiểu rằng khóc lóc hay hờn dỗi đều chả đưa ta đến đâu. Việc duy nhất đáng làm khi bị tấn công, như Napoleon từng nói, là đáp trả. Tâm trí tinh tế tuyệt vời của Matilda đã sẵn sàng nghĩ ra một hình phạt thích hợp khác dành tặng quý vị phụ huynh độc địa kia. Kế hoạch giờ đang hình thành trong tâm trí cô bé, tuy nhiên, lại phụ thuộc vào việc liệu con vẹt của Fred có nói hay như Fred quảng cáo hay không.
            Fred là bạn Matilda. Cậu là một anh chàng 6 tuổi nhỏ bé, sống ngay góc đường gần nhà Matilda, và nhiều ngày qua cậu không ngừng kể về chú vẹt nói năng cực hay mà bố cậu tặng cậu.
            Thế là chiều hôm sau, ngay khi Bà Wormwood đánh xe rời nhà đi chơi lô-tô, Matilda liền qua nhà Fred tìm hiểu. Cô gõ cửa và hỏi xem, liệu cậu có đủ tử tế cho cô xem chú chim nổi tiếng nọ hay không. Fred rất vui và dẫn bạn lên phòng ngủ của mình, nơi chú vẹt màu vàng và xanh lơ đẹp đẽ đang đứng trong chiếc lồng cao.
            “Đây nó đây,” Fred chỉ. “Tên nó là Bổ củi.”
            “Kêu nó nói đi,” Matilda bảo.
            “Cậu không kêu nó nói được,” Fred đáp. “Cậu phải kiên nhẫn. Nó sẽ nói khi nó thích.”
            Hai bạn bèn la cà quanh đó, chờ đợi. Thình lình chú vẹt cất tiếng, “Xin chào, xin chào, xin chào.” Giọng y như người. Matilda khen, “Tuyệt quá! Nó còn nói được gì nữa?”
            “Vặn xương răng rắc!” Chú vẹt nói, giả giọng ma cực giống. “Vặn xương răng rắc!”
            “Nó luôn nói thế đấy,” Fred bảo bạn.
            “Nó còn nói được gì nữa?” Matilda hỏi.
            “Vậy thôi,” Fred đáp. “Nhưng vậy là tuyệt lắm rồi, cậu không nghĩ thế sao?”
            “Quá hay luôn,” Matilda hỏi. “Cậu cho tớ mượn nó một đêm nhé?”
            “Không,” Fred đáp. “Dĩ nhiên là không rồi.”
            “Tớ sẽ cho cậu toàn bộ tiền tiêu vặt tuần tới của tớ,” Matilda nói.
             Chuyện đó thì khác. Fred suy nghĩ trong vài giây. “Rồi,” cậu nói, “nếu cậu hứa mai trả nó cho tớ.”
            Matilda loạng choạng trở về căn nhà trống rỗng của mình, hai tay bưng chiếc lồng cao. Phòng ăn nhà cô có cái lò sưởi lớn, và giờ cô bố trí đặt chiếc lồng lên phía trên ống khói, khuất khỏi tầm nhìn. Việc này không dễ, nhưng cuối cùng cô cũng làm xong.
            “Xin chào, xin chào, xin chào!” chú chim nói vọng xuống. “Xin chào, xin chào!”
            “Im mồm, đồ điên!” Matilda bảo, rồi cô đi rửa mớ bồ hóng bám vào tay.
            Tối đó, khi bố, mẹ, anh trai và Matilda đang ăn tối như thường lệ trong phòng khách, trước màn hình ti-vi, thì một giọng nói to và rõ cất lên từ phòng ăn, vọng qua sảnh ngoài. “Xin chào, xin chào, xin chào!” nó nói.
            “Harry!” bà mẹ kêu lên, mặt trắng bệch. “Có ai đó trong nhà! Em nghe có tiếng người!”
            “Con cũng thế!” cậu anh đáp lại. Matilda nhảy dựng lên và tắt bụp ti-vi. “Suỵt! Nghe này!” cô bảo.
            Cả nhà ngừng ăn, ngồi trơ ra đó, nghe ngóng.
             “Xin chào, xin chào, xin chào!” giọng nói lại cất lên.
            “Đấy nó đấy!” cậu anh la lên.
            “Trộm đấy!” bà mẹ rít lên. “Chúng ở trong phòng ăn!”
            “Anh cũng nghĩ thế,” ông bố đáp, ngồi im re.
            “Vậy đi tóm chúng đi, Harry!” bà mẹ rít lên. “Đi và bắt chúng ngay tại trận!’
            Ông bố không động đậy. Ông chẳng có vẻ gì vội lao ra, làm anh hùng cả. Mặt ông xám như tro.
            “Ra tay đi!” bà vợ lại rít. “Chắc chúng đi lùng mấy đồ dùng bằng bạc đấy!”
           Ông chồng bồn chồn dùng khăn ăn lau mồm. “Sao tất cả chúng ta không cùng đi xem sao?” ông bảo.
            “Thì đi,” cậu anh kêu. “Đi nào, mẹ.”
            “Chúng nhất định ở trong phòng ăn,” Matilda thì thào. “Con chắc thế.”
            Bà mẹ vớ cái que cời nơi lò sưởi. Ông bố cầm cây gậy đánh gôn ở góc nhà. Cậu anh túm lấy chiếc đèn bàn, kéo phích cắm ra khỏi ổ điện. Matilda thì nhặt con dao cô đang dùng để cắt thức ăn, và cả bọn bốn người lò dò tiến tới cửa phòng ăn, ông bố đi mãi tận phía sau.
            “Xin chào, xin chào, xin chào!” giọng nói lại cất lên.
            “Lên nào!” Matilda nói, rồi nhào vào phòng ăn, tay khua khoắng con dao. “Chọc tiết chúng!” cô hét lên. “Bọn tao bắt được chúng mày rồi!” Những người khác nhào vào theo cô, tay vung vẩy vũ khí. Rồi họ dừng lại. Họ nhìn quanh. Không ai ở đó cả.
            “Không có ai ở đây,” ông bố nói, giọng nhẹ nhõm.
            “Em nghe thấy mà, Harry!” bà mẹ ré lên, giọng còn run. “Em nghe rõ lắm! Anh cũng vậy mà!”
            “Con chắc mình cũng nghe thấy luôn!” Matilda kêu lên. “Hắn ở đâu đó quanh đây thôi!” Cô bắt đầu tìm kiếm sau ghế xô-pha và sau rèm cửa.
            Rồi giọng nói lại cất lên, lần này nho nhỏ, ma quái, “Vặn xương răng rắc, vặn xương răng rắc,” nó nói.
            Bọn họ tất thảy đều nhảy cả lên, trong đó có Matilda, một diễn viên rất khá. Họ nhìn quanh. Vẫn không có ai ở đó.
            “Ma đấy,” Matilda nói.
            “Trời ơi giúp con với!” bà mẹ la lên, vòng tay kẹp cổ ông chồng.
            “Con biết có ma mà!” Matilda nói. “Có lần con nghe thấy nó ở đây! Căn phòng này bị ma ám rồi! Con nghĩ mọi người biết chuyện đó chứ.”
            “Cứu chúng con với!” bà mẹ ré lên, suýt bóp cổ chồng.
            “Tao ra khỏi đây đây,” ông bố nói, mặt xám chưa từng thấy. Bọn họ tất thảy ùa ra khỏi phòng, đóng sầm cửa lại.
            Chiều hôm sau, Matilda cố lôi chú vẹt quạu quọ, mình dính đầy bồ hóng ra khỏi ống khói và khỏi nhà mình mà không bị ai nhìn thấy. Cô đem nó ra theo cửa sau và ôm nó chạy một mạch sang nhà Fred.
            “Nó có ngoan không?” Fred hỏi cô.
            “Nhà mình chơi với nó vui lắm,” Matilda đáp. “Bố mẹ mình khoái nó kinh khủng.”

Thursday, October 3, 2013

Matilda -- Chapter 2



ÔNG WORMWOOD, NHÀ BUÔN XE VĨ ĐẠI

            Bố mẹ Matilda sở hữu một căn nhà khá đẹp, có 3 phòng ở lầu trên, còn lầu dưới có một phòng ăn, một phòng khách và một nhà bếp. Bố cô bé là tay buôn xe cũ, và hình như ông ta làm ăn rất tốt.
            “Mùn cưa,” ông ta nói vẻ tự hào, “là bí quyết thành công vĩ đại nhất của tao. Mà chả tốn xu teng nào. Tao lấy nó từ xưởng cưa miễn phí.”
            “Bố dùng thứ ấy vào việc gì?” Matilda hỏi.
            “À!” ông bố đáp. “Mày có thật muốn biết không?”
            “Con chả hiểu mùn cưa giúp được gì cho việc buôn xe cũ cả, bố ạ.”
            “Vì mày là đứa đại ngốc,” ông bố nói. Ngôn từ của ông ta chẳng bao giờ tinh tế, song Matilda đã quen với điều đó. Cô cũng biết bố mình khoái nổ nên chẳng ngại gì khi làm ra vẻ ngớ ngẩn cả.
            “Bố hẳn rất thông minh khi tìm ra cách sử dụng thứ gì đó chả tốn xu teng nào.” Cô nói. “Con ước gì mình có thể làm thế.”
            “Mày không làm được đâu,” ông bố đáp. “Mày ngu lắm. Nhưng tao không phiền nói cho nhóc Mike đây về việc đó, vì nó sẽ theo tao làm nghề này một ngày nào đấy.” Ngó lơ Matilda, ông ta quay sang cậu con trai và bảo, “Tao luôn mừng khi mua phải cái xe mà thằng ngu nào đó làm hỏng bét bộ điều khiển đến độ nó mòn vẹt cả đi và kêu như điên. Tao mua rẻ. Rồi mọi việc cần làm là cho thật nhiều mùn cưa vào dầu, tra vào hộp số và nó sẽ chạy ngon cơm ngay.”
            “Chạy được bao lâu thì nó lại kêu như điên trở lại?” Matilda hỏi.
            “Đủ lâu để người bán cao chạy xa bay,” bố cô đáp, cười nhăn nhở. “Đâu khoảng 100 dặm.”
            “Nhưng vậy là không trung thực, bố ạ,” Matilda nói. “Vậy là gian dối.”
            “Không ai trung thực mà giàu cả,” bố cô đáp. “Khách hàng ở đó là để bị lừa.”
            Ông Wormwood là một tay có dáng điệu chuột chù, răng cỏ chìa cả ra ngoài dưới hàm ria chuột. Ông ta thích mặc áo vét có sọc lớn, màu sắc sặc sỡ, và cực khoái mấy cái cà vạt màu vàng hay xanh nhạt. “Giờ tính tổng số dặm đường đi chẳng hạn,” ông ta tiếp tục. “Bất cứ ai mua một con xe cũ, việc đầu tiên cần làm là biết nó đi bao nhiêu dặm đường. Đúng không?”
            “Đúng,” cậu con đáp lại.
            “Thế là tao mua một cục sắt gỉ, đi đâu khoảng 150.000 dặm tính theo đồng hồ. Tao mua rẻ thôi. Nhưng ai thèm mua lại con xe với từng ấy dặm đường cơ chứ, phải không? Mà thời nay mày không thể lôi cái công-tơ-mét ra và gạt cho nó trở lại con số đã dùng từ hồi chục năm về trước được. Người ta đã chỉnh sửa để việc đó không thể xảy ra, trừ phi mày là gã làm đồng hồ chết tiệt hay thứ gì đại loại thế. Vậy giờ tao làm gì? Tao dùng cái đầu của mình, con trai ạ, đó là thứ tao làm.”
            “Bằng cách nào cơ?” cậu Michael trẻ tuổi hỏi, vẻ hào hứng. Cậu con hình như thừa hưởng từ ông bố lòng yêu mến sự đểu giả.
            “Tao mới ngồi lại và tự nhủ là, làm thế nào mình có thể đổi con số 150.000 thành chỉ còn 10.000 dặm mà không đập vụn cái công-tơ-mét ra? Ồ, nếu tao cho xe chạy lui đủ lâu thì rõ ràng việc đó sẽ xảy ra. Số sẽ quay ngược trở lại, phải không nào? Nhưng ai đi de cái xe nóng rãy ấy tới hàng ngàn hàng ngàn dặm được? Mày không thể làm thế được đâu!”
            “Dĩ nhiên là không thể được rồi,” cậu Michael trẻ tuổi nói.
            “Thế là tao gãi đầu gãi tai,” ông bố tiếp. “Tao dùng cái đầu của mình. Khi mày được trời phú cho bộ óc tuyệt hảo như tao, thì mày phải dùng nó chứ. Và rồi đột nhiên, câu trả lời bay tới. Báo cho mày biết, tao có cảm giác hệt như một thằng cha sáng láng, cái thằng phát hiện ra thuốc kháng sinh ấy. ‘Eureka!’ Tao la lên. ‘Tìm ra rồi!’”
            “Bố làm gì hở bố?” cậu con hỏi.
            “Cái công-tơ-mét ấy,” Ông Wormwood đáp lời, “nó chạy được nhờ một sợi dây cáp nối với bánh trước. Vì thế đầu tiên tao tháo sợi dây, chỗ nối với bánh trước ra. Sau đó, tao lấy một cái khoan điện, loại tốc độ cao, quấn nó vào cuối sợi dây, để khi cái khoan quay, thì nó quấn sợi dây theo chiều ngược lại. Tới đây mày hiểu tao chưa? Mày theo kịp tao không?”
            “Có, bố ạ,” cậu Michael trẻ tuổi đáp.
            “Mấy cái khoan này chạy với tốc độ khủng khiếp,” ông bố tiếp, “vậy nên khi tao bật nó lên thì con số dặm trên đồng hồ tốc độ quay ngược trở lại với tốc độ khó tưởng. Tao có thể cho 150.000 dặm bay văng khỏi đồng hồ chỉ trong vài phút bằng cái khoan điện tốc độ cao của mình. Và khi hoàn tất, con xe kia chỉ còn 10.000 dặm đã đi, và sẵn sàng cho việc buôn bán. ‘Nó gần như mới,’ tao nói với khách hàng. ‘Đi chưa tới 10.000 dặm. Thuộc về một bà khách già, người chỉ lôi nó ra đi mua sắm mỗi tuần một lần.’”
            “Bố thực sự có thể quay ngược con số dặm đường đi chỉ bằng một cái khoan điện thôi ư?” cậu Michael trẻ tuổi hỏi.
            “Tao đang kể cho mày nghe bí quyết kinh doanh,” ông bố trả lời. “Vì thế đừng có đi nói điều đó với ai cả. Mày không muốn tao ăn cơm tù đó chứ?”
            “Con không hé răng tẹo nào đâu,” cậu con đáp. “Mà bố làm thế với nhiều xe phải không?”
            “Xe nào qua tay tao đều trải qua cùng công đoạn cả,” ông bố đáp. “Chúng đều được giảm số dặm đường đi xuống dưới 10.000 trước khi đem ra bán. Mà cứ nghĩ tới việc tự mình tìm ra cái mánh đó,” ông ta tiếp, vẻ tự hào. “Tao thấy mình bá đạo ghê!”
            Matilda, nãy giờ đang chăm chú lắng nghe, bèn nói, “Nhưng bố ơi, chuyện đó còn gian dối hơn chuyện mùn cưa nữa. Nghe tởm lắm. Bố đang lừa dối những người tin tưởng bố đấy.”
            “Nếu mày không thích thì đừng có xơi cơm trong cái nhà này,” ông bố đáp. “Nó mang tới lợi nhuận đó.”
            “Đấy là tiền bẩn,” Matilda nói. “Con ghét nó.”
            Hai đốm đỏ xuất hiện trên má ông bố. “Mày nghĩ mày là giống gì hở,” ông ta la lên, “Tổng giám mục xứ Canterbury hay thứ gì đại loại thế hay sao mà đi rao giảng về sự trung thực với tao? Mày chỉ là con nhỏ ngu ngốc mặt trơ trán bóng chả hiểu mình đang nói cái quái gì nữa!”
            “Đúng thế, Harry ạ,” bà mẹ đáp. Rồi quay sang Matilda, bà ta nói, “Mày điên rồi mới nói với bố mày thế. Giờ liệu mà ngậm cái mồm bẩn thỉu lại để bọn tao còn yên ổn xem chương trình này cái nào.”
            Bọn họ đang ở trong phòng khách, chén bữa tối đặt trên đầu gối và ngồi trước ti-vi. Bữa tối trước ti-vi là mấy hộp nhôm mềm có nhiều ngăn, đựng thịt hầm, khoai tây và đậu luộc. Bà Wormwood đang ngồi nhá phần ăn của mình, mắt dán chặt vào màn hình, xem bộ phim truyền hình nhiều tập kiểu trong nhà ngoài phố của Mỹ. Bà ta là một phụ nữ to lớn, tóc nhuộm vàng bạch kim, trừ những chỗ chân tóc lộ ra chút màu nâu lông chuột. Bà ta trang điểm đậm, là một trong số những người phì nộn khốn khổ, với những chỗ da thịt trương phình và như sắp rơi cả ra nếu không được nai nịt cẩn thận.
            “Mẹ ơi,” Matilda nói, “mẹ có phiền nếu con ăn bữa tối của mình trong phòng ăn để có thể đọc sách được luôn không ạ?”
            Ông bố liếc xéo qua. “Tao thấy phiền đấy!” ông ta cắn cảu. “Bữa tối là lúc gia đình tụ họp bên nhau và không ai rời bàn khi chưa ăn xong cả!”
            “Nhưng ta không ngồi tại bàn,” Matilda đáp lại. “Ta có bao giờ làm thế đâu. Ta toàn ăn với bữa ăn đặt trên đầu gối và ngồi xem ti-vi không à.”
            “Xem ti-vi thì có gì sai nào, cho tao hỏi cái?” ông bố nói. Giọng ông ta thình lình chuyển tông sang nhỏ nhẹ và nguy hiểm.
            Matilda không tự tin lắm để đáp lại lời bố, nên cô im lặng. Cô có thể cảm thấy cơn giận đang sôi sục trong lòng. Có biết việc ghét bỏ cha mẹ mình vậy là sai, nhưng cô thấy khó mà không làm thế. Tất cả sách vở cô từng đọc qua đã dạy cô một quan niệm sống mà bọn họ chưa từng biết tới. Giá họ chỉ đọc một chút sách của Dicken hay Kipling thôi, họ sẽ phát hiện ra rằng, sống có nhiều điều đáng làm hơn nhiều so với việc lừa dối kẻ khác và xem ti-vi.
            Một việc nữa. Cô ghét liên tục bị gọi là ngu ngốc, khi cô biết mình không như thế. Cơn giận trong cô càng lúc càng sôi sục, và khi ngả lưng trên giường tối hôm ấy, cô ra một quyết định. Cô quyết định là, mỗi lần bố hay mẹ đối xử cục súc với mình, mình sẽ đáp trả theo một cách nào đấy. Một hay hai thắng lợi nho nhỏ sẽ giúp cô chịu đựng được sự ngu ngốc của bọn họ, và giữ cho cô khỏi phát điên lên. Bạn phải nhớ là cô bé chưa tới 5 tuổi, và thật không dễ cho ai đó ở độ tuổi ấy ghi bàn trước một kẻ trưởng thành hùng mạnh. Hơn thế, cô bé còn định khiêu chiến trước. Bố cô, sau những gì xảy ra trước màn hình ti-vi tối hôm ấy, là đối thủ đầu tiên trong danh sách.

Monday, September 30, 2013

Matilda -- Chapter 1



ROALD DAHL

Matilda

Nội dung

1- Vị độc giả
2- Ông Wormwood, nhà buôn xe vĩ đại
3- Cái nón và keo siêu dính
4- Con ma
5- Môn Đại số
6- Người đàn ông có món tóc bạch kim
7- Cô Honey
8- Bà Trunchbull
9- Quý vị phụ huynh
10- Môn Ném búa
11- Bruce Bogtrotter và món bánh kem
12- Lavender
13- Bài kiểm tra hằng tuần
14- Phép lạ thứ nhất
15- Phép lạ thứ hai
16- Túp lều của cô Honey
17- Chuyện của cô Honey
18- Những cái tên
19- Luyện phép
20- Phép lạ thứ ba
21- Tổ ấm mới



VỊ ĐỘC GIẢ

Có điều này rất buồn cười về các bậc cha mẹ. Dù con họ có là vết phồng rộp nhỏ xíu xấu xí nhất mà bạn có thể tưởng tượng ra được, thì họ vẫn nghĩ các cô cậu ấy là báu vật trời ban.
Vài phụ huynh còn quá đáng hơn. Họ trở nên mù lòa vì yêu đến độ cứ tự thuyết phục rằng con cái mình mang đầy phẩm chất của thiên tài.
Ừ thì chuyện đó cũng chả có gì sai. Đó là kiểu của cái thế giới này mà. Nhưng chỉ khi các vị ấy bắt đầu kể lể với ta về sự sáng láng của đám hậu duệ đáng tởm của mình, thì chúng ta mới phải gào lên, “Đem chậu ra mau! Bọn tôi sắp ọi tới nơi rồi!”
Giáo viên chịu đựng rất nhiều khi phải lắng nghe những thứ ba lăng nhăng này từ các quý vị phụ huynh tự mãn, song họ thường có chính kiến khi bắt tay vào viết báo cáo cuối kỳ. Nếu là giáo viên thì tôi sẽ bịa ra vài câu mỉa mai thật chua cay dành tặng con cái mấy quý vị đắm đuối ấy. Tôi sẽ viết, “Con trai ông bà, Maximillian, là một sự đại bại khủng khiếp. Tôi hi vọng ông bà có công việc kinh doanh dạng gia đình nào đó để cậu nhà có thể làm khi cậu rời trường, vì cậu ấy chắc chả tìm được nơi nào khác để đi cả.” Hoặc giả nếu hôm đó nổi hứng thơ ca, tôi sẽ viết, “Thật là sự thật đáng tò mò khi bọn cào cào có cơ quan thính giác nằm cạnh bụng. Con gái ông bà, Vanessa, thể theo những gì cô ấy học được trong học kỳ này, thì chả có cơ quan thính giác nào cả.”
Tôi có thể tìm tòi sâu hơn với môn Lịch sự tự nhiên mà bảo rằng, “Bọn ve sầu định kỳ phải mất sáu năm để sống như giòi bọ dưới lòng đất, và không đầy sáu ngày để biến thành sinh vật tự do nơi ánh mặt trời và bầu không khí. Con trai ông bà Wilfred đã trải qua sáu năm như giòi bọ dưới ngôi trường này và chúng tôi vẫn đợi cậu ấy hóa thân thành nhộng.” Một cô nhỏ cực độc sẽ châm chích để tôi phải phun ra những lời lẽ sau đây, “Fiona có vẻ băng giá của một tảng băng trôi, nhưng không giống tảng băng ấy, cô bé chả có gì nổi trên mặt nước cả.” Tôi nghĩ mình có thể khoái viết báo cáo cuối kỳ dành tặng những kẻ khó ưa trong lớp mình. Nhưng thế là đủ. Chúng ta phải tiếp tục câu chuyện.
Thi thoảng ta sẽ gặp vài vị phụ huynh ở chiều hướng ngược lại, những người chẳng quan tâm gì sất tới con cái họ, và những người này dĩ nhiên tệ hơn rất nhiều so với mấy vị đắm đuối kia. Ông và bà Wormwood là những phụ huynh như thế. Họ có một cậu con trai, tên là Michael, và một cô con gái, tên là Matilda, và họ coi Matilda chẳng hơn gì nốt ghẻ. Nốt ghẻ là thứ bạn phải chịu đựng cho tới khi bạn có thể cạy nó ra và phẩy nó đi. Ông và bà Wormwood cực kỳ trông đợi thời điểm mà họ có thể cạy con gái bé nhỏ của mình ra và phẩy nó đi, sang nước láng giềng hay thậm chí xa hơn.
Việc các quý vị phụ huynh đối xử với con cái bình thường của mình như thể chúng là nốt ghẻ hay vết sưng ở kẽ ngón chân đã đủ tệ rồi, song sẽ còn tệ hơn khi đứa trẻ được nói tới là một đứa phi thường, và qua đó, ý tôi là, nhạy cảm và sáng láng. Matilda có cả hai điều đó, nhưng trên hết, cô bé thật sáng láng. Tâm trí cô lanh lẹ và cô học hỏi nhanh đến độ khả năng của cô hẳn sẽ hiện rõ mồn một với quý vị phụ huynh khờ khạo nhất. Song ông và bà Wormwood đều quá ngu ngốc và chú tâm tới đời sống bé bỏng ngớ ngẩn của mình tới nỗi họ chẳng nhận ra thứ gì bất thường ở con gái mình. Nói thật, tôi e họ cũng chẳng nhận ra nếu cô bé có đi cà nhắc về nhà.
Anh của Matilda, Michael, là một cậu bé hoàn toàn bình thường, nhưng cô em, như tôi đã nói, là thứ gì đó khiến ta phải trầm trồ. Mới một tuổi rưỡi ngôn từ của cô đã chuẩn chỉnh và cô bé biết nhiều từ ngang phần đông người lớn. Cha mẹ cô, thay vì tán thưởng, lại gọi cô là con vẹt lắm mồm và cay nghiệt bảo cô rằng, các cô bé chỉ nên để kẻ khác ngắm nhìn chớ đừng để người ta nghe thấy.
Tới tuổi lên ba, Matilda tự học đọc bằng cách đọc các tờ báo và tạp chí vất vung vãi quanh nhà. Lên bốn, cô có thể đọc mau lẹ, trôi chảy, và lẽ tự nhiên, cô thèm khát sách vở. Cuốn duy nhất tồn tại trong ngôi nhà được khai sáng ấy là thứ gì đó thuộc về mẹ cô, mang tên Nấu ăn dễ ợt, và khi cô đọc xong nó và học thuộc tất tần tật các công thức trong đó, thì cô quyết định mình muốn thứ gì đó hay ho hơn.
“Bố ơi,” cô bé nói, “Bố nghĩ bố có thể mua cho con một cuốn sách được không?”
“Một cuốn sách hở?” ông ta hỏi. “Thế mày cần một cuốn sách nóng rãy lên để làm gì?”
“Để đọc, bố ạ.”
“Trời, còn ti-vi thì sao? Nhà mình có cái ti-vi đáng yêu với màn hình 12 inch, và giờ mày đi đòi một cuốn sách! Mày hỏng rồi, con ạ.”
            Hầu như chiều nào Matilda cũng ở nhà một mình. Anh cô (lớn hơn cô 5 tuổi) đi học. Cha cô đi làm, còn mẹ cô thì vào thị trấn cách nhà 8 dặm để chơi lô-tô. Bà Wormwood rất mê lô-tô và chơi trò này năm ngày mỗi tuần. Vào chiều ngày mà bố cô từ chối mua cho cô một cuốn sách, Matilda quyết định tự mình ra thư viện công cộng của làng. Tới nơi, cô giới thiệu bản thân với vị thủ thư, Bà Phelps. Cô hỏi xem liệu mình có thể ngồi một lúc và đọc một cuốn sách không. Bà Phelps, tuy hơi sửng sốt trước một cô bé nhỏ xíu tới mà không có cha mẹ đi cùng, vẫn mở lời chào đón.
            “Làm ơn cho cháu biết sách trẻ em để ở đâu ạ?” Matilda hỏi.
            “Chúng ở đằng kia, chỗ mấy cái kệ thâm thấp ấy.” Bà Phelps trả lời. “Cháu có muốn bác giúp cháu lấy một cuốn thật đẹp, có nhiều tranh không?”
            “Không, cảm ơn bác.” Matilda nói. “Cháu chắc mình có thể tự tìm được.”
            Từ đó trở đi, mỗi chiều, ngay khi mẹ rời nhà đi chơi lô-tô, Matilda lại tà tà cuốc bộ xuống thư viện. Cô đi mất 10 phút và làm thế, cô có hai giờ sung sướng ngồi yên một mình ở một góc ấm cúng, ngốn ngấu hết cuốn này tới cuốn khác. Khi đọc hết sạch sách dành cho trẻ em, cô bắt đầu lượn lờ tìm kiếm thứ gì đó khác.
            Bà Phelps, người mê mẩn quan sát cô suốt vài tuần qua, giờ bèn rời bàn làm việc của mình và tới bên cô bé. “Bác có thể giúp gì cháu không, Matilda?” bà hỏi.
            “Cháu đang tự hỏi mình sẽ đọc gì tiếp theo,” Matilda trả lời. “Cháu đọc hết sách dành cho trẻ em rồi ạ.”
            “Ý cháu là xem hết tranh trong sách chứ gì?”
            “Vâng, và đọc cả chữ nữa.”
            Bà Phelps cúi nhìn Matilda từ chiều cao to lớn của mình còn Matilda ngước mắt lên nhìn bà.
            “Cháu nghĩ vài cuốn dở lắm,” Matilda nói, “song mấy cuốn khác cũng được. Cháu thích Khu vườn bí mật nhất. Cuốn đó đầy chuyện bí ẩn. Bí ẩn của căn phòng nằm sau cánh cửa đóng kín, còn bí ẩn của khu vườn nằm sau bức tường to.”
            Bà Phelps kinh ngạc. “Chính xác cháu bao nhiêu tuổi rồi, Matilda?” bà hỏi.
            “Bốn tuổi ba tháng ạ,” Matilda trả lời.
            Bà Phelps còn kinh ngạc hơn, song tâm thức bảo bà không biểu hiện nó ra. “Thế cháu thích đọc tiếp sách loại nào nào?” bà hỏi.
            Matilda đáp, “Cháu thích một cuốn thật hay mà người lớn đọc ấy. Một cuốn nổi tiếng. Cháu không biết cái tựa nào.”
            Bà Phelps nhìn dọc theo kệ sách, thật từ tốn. Bà không biết nên lấy cuốn nào. Làm thế nào, bà tự nhủ, mà người ta chọn được một cuốn nổi tiếng dành cho người lớn cho một cô bé bốn tuổi nhỉ? Thoạt đầu bà nghĩ mình sẽ lựa ra một cuốn truyện tình cảm dành cho thanh thiếu niên, loại viết cho các cô cậu học trò độ tuổi 15, nhưng vì lý do nào đấy, bà thấy mình tự bản năng đã bỏ qua kệ sách đó.
            “Thử cái này đi cháu,” rốt cuộc bà cất lời. “Nó rất nổi tiếng, rất hay. Nếu nó dài quá, hãy cho bác biết, rồi bác sẽ tìm thứ gì đó ngắn và dễ hơn.”
            Những kỳ vọng lớn,” Matilda đọc tựa sách lên, “của Charles Dickens. Cháu thích thử nó ạ.”
            Mình điên mất rồi, Bà Phelps tự nhủ, song lại nói với Matilda, “Dĩ nhiên cháu có thể thử xem nó.”
            Thế là suốt mấy buổi chiều sau đó, Bà Phelps hầu như không thể rời mắt khỏi cô bé nhỏ tí ngồi hằng giờ trên chiếc ghế bành to tướng nằm tận cuối phòng đọc, với cuốn sách đặt trong lòng. Cô để nó nằm nơi đùi, vì nó quá nặng để có thể cầm lên, và thế là cô phải nghiêng người tới trước để đọc. Thật là một cảnh tượng kỳ lạ, cái cảnh một người tóc đen nhỏ xíu ngồi đó, chân gần chạm sàn nhà, đắm mình trong cuộc phiêu lưu tuyệt diệu của Pip và Bà cô già Havisham, căn nhà rối tinh rối mù của bà ta và phép thuật thần kỳ mà Dickens, nhà kể chuyện vĩ đại, đã dệt lên bằng ngôn từ của ông. Cử động duy nhất của vị độc giả này là thi thoảng nhấc tay lên lật sách, và Bà Phelps luôn thấy buồn khi phải băng qua phòng đọc và nói, “Năm giờ kém mười rồi, Matilda ạ.”
            Suốt tuần đầu Matilda tới thư viện, Bà Phelps đã hỏi cô, “Thế mẹ cháu ngày nào cũng dắt cháu tới rồi đón cháu về à?”
            “Mẹ cháu chiều nào cũng xuống Aylesbury chơi lô-tô ạ,” Matilda đáp lại. “Bà ấy không biết cháu ở đây đâu.”
            “Nhưng thế thì không đúng rồi,” Bà Phelps bảo. “Bác nghĩ cháu nên hỏi xin phép mẹ.”
            “Tốt hơn đừng làm thế,” Matilda đáp. “Bà ấy không khuyến khích việc đọc sách. Bố cháu cũng thế ạ.”
            “Vậy họ mong cháu làm gì mỗi chiều trong căn nhà trống trơn chứ?”
            “Thơ thẩn trong nhà và xem ti-vi ạ.”
            “Bác hiểu rồi.”
            “Mẹ không thực sự quan tâm xem cháu làm gì,” Matilda nói, giọng đượm buồn.
            Bà Phelps lo lắng về sự an toàn của cô bé khi cô đi bộ dọc khu Phố Cao khá đông đúc của làng và băng qua đường, song bà quyết định không can thiệp.
            Trong vòng một tuần, Matilda đã đọc xong cuốn Những kỳ vọng lớn, ấn bản gồm 411 trang. “Cháu thích nó lắm,” cô nói với Bà Phelps. “Ông Dickens còn viết cuốn nào khác không ạ?”
            “Nhiều lắm,” Bà Phelps đáp lại bằng sự sửng sốt. “Bác chọn cho cháu cuốn khác nhé?”
            Trong vòng sáu tuần tiếp theo, dưới con mắt thương cảm và ân cần của Bà Phelps, Matilda đã đọc những cuốn sau:
            Nicholas Nickleby của Charles Dickens
            Oliver Twist của Charles Dickens
            Jane Eyre của Charlotte Brontë
            Kiêu hãnh và định kiến của Jane Austen
            Cô gái dòng họ D’Urberville của Thomas Hardy
            Về với Đất của Mary Webb
            Kim của Rudyard Kipling
            Người tàng hình của H. G. Wells
            Ông già và biển cả của Ernest Hemingway
            Âm thanh và cuồng nộ của William Faulkner
            Sục sôi cơn giận của John Steinbeck
            Đồng hành hữu hảo của J. B. Priestley
            Đá Brighton của Graham Greene
            Trại súc vật của George Orwell
            Thật là một danh sách khủng khiếp và tới giờ phút này, lòng Bà Phelps tràn ngập sự thích thú và kinh ngạc, nhưng việc bà hoàn toàn không để chuyện đó cuốn đi là một điều hay. Người khác tận mắt chứng kiến thành tựu của cô bé này ắt hẳn đã làm to chuyện và loan tin khắp chốn cùng quê rồi, nhưng Bà Phelps không thế. Bà là người chăm chú vào việc của mình và dù phát hiện chuyện này từ lâu, bà hiếm khi can thiệp vào việc con cái người khác.
           “Ông Hemingway nói nhiều điều cháu không hiểu,” Matilda bảo bà. “Nhất  là về đàn ông và đàn bà. Nhưng cháu vẫn thích cuốn sách. Cái cách ông ấy kể khiến cháu thấy mình như thể đang ở đấy, thấy việc đó đang xảy ra.”
            “Một nhà văn giỏi luôn khiến cháu cảm thấy thế,” Bà Phelps đáp. “Và đừng lo về mấy thứ cháu không hiểu. Ngồi xuống và để từ ngữ chảy quanh cháu, như âm nhạc vậy.”
            “Cháu sẽ làm thế.”
            “Cháu có biết là,” Bà Phelps hỏi, “những thư viện như vầy cho phép cháu mượn sách về nhà không?”
            “Cháu không biết,” Matilda đáp. “Vậy cháu mượn được à?”
            “Dĩ nhiên rồi,” Bà Phelps đáp. “Khi cháu chọn được cuốn cháu thích, mang nó lại đây để bác ghi nó lại, rồi nó sẽ thuộc về cháu trong hai tuần. Cháu có thể mượn hơn 1 cuốn, nếu cháu thích.”
            Từ đó trở đi, Matilda chỉ tới thư viện một lần mỗi tuần để lấy sách mới và trả lại sách cũ. Phòng ngủ nhỏ bé của cô giờ trở thành phòng đọc và ở đó cô bé ngồi đọc hầu hết các buổi chiều, thường với một ly sô-cô-la nóng bên cạnh. Cô bé chưa đủ cao để với tới mọi thứ quanh bếp, nhưng cô lấy một cái hộp nhỏ để ở phòng ngoài, đem vào bếp và đứng lên nó để lấy mọi thứ cô cần. Đa phần là để pha sô-cô-la nóng, bao gồm việc làm ấm sữa trong một cái nồi con trên bếp trước khi trộn thành sô-cô-la. Thỉnh thoảng cô cũng pha Bovril hay Ovaltine. Thật dễ chịu khi mang một thứ nước nóng ấm lên phòng, để nó kề bên trong lúc ngồi đọc sách trong căn phòng tĩnh lặng, trong ngôi nhà trống trơn vào những buổi chiều. Sách đem cô tới những thế giới mới mẻ và cho cô thấy những con người tuyệt diệu có cuộc đời kỳ thú. Cô lên tàu giong buồm ra khơi vào thời xa xưa với Joseph Conrad. Cô tới Mỹ Châu với Ernest Hemingway, tới Ấn Độ với Rudyard Kipling. Cô ngao du khắp thế giới khi vẫn ngồi trong căn phòng nhỏ của mình ở một làng nhỏ bé nước Anh.

Saturday, September 28, 2013

Matilda (Roald Dahl)



Tác giả

Roald Dahl (đọc là râu-an đan), sinh 13-09-1916 mất 23-11-1990, là tiểu thuyết gia, nhà văn viết truyện ngắn, nhà thơ, nhà viết kịch bản phim, phi công người Anh. Sinh ở xứ Wales, có cha mẹ là người Na-uy, ông đã phục vụ Quân lực Hoàng gia Anh trong suốt Đệ nhị thế chiến, và là một phi công, một sĩ quan tình báo xuất sắc, mang tới hàm trung tá. Dahl nổi tiếng vào thập niên 1940, khi viết nhiều truyện dành cho trẻ em và người lớn, và trở thành một trong số các tác giả có tác phẩm bán chạy nhất thế giới. Ông được xem là “một trong số những người kể chuyện trẻ em vĩ đại nhất thế kỷ 20”. Năm 2008 tờ Thời báo xếp ông hạng 16 trong số “50 nhà văn Anh vĩ đại nhất từ năm 1945”. Truyện ngắn của ông thường được biết đến với kết cục bất ngờ, trong khi truyện dành cho trẻ em của ông thường mang màu sắc phi tình cảm, hài hước và hắc ám. Một số tác phẩm của ông: James và cây đào khổng lồ, Charlie và nhà máy sản xuất sô-cô-la, Matilda, Mấy mụ phù thủy, Ông Cáo diệu kỳ, Vợ chồng nhà Twit, Thứ thuốc thần diệu của George, Chú KLTBTT (Chú Khổng Lồ To Béo Thân Thiện)
(Lược dịch từ  http://en.wikipedia.org/wiki/Roald_Dahl)


Matilda

Dành tặng Michael và Lucy


Một số phê bình về truyện

Dù tinh ranh, song Maltida là hình mẫu không thể nào tốt hơn cho trẻ em ngày nay. Cô bé siêu thông minh và trên hết, là độc giả ngốn sách khủng khiếp! (Thời báo)

Matilda là quyển truyện thiếu nhi được ưa thích ở Anh, theo khảo sát của chương trình Mọt sách mà Waterstone và BBC tiến hành với hơn 10.000 người. (Thời báo Chủ nhật)

Là một trong số những quyển truyện thiếu nhi nổi tiếng nhất (Khảo sát dự án Mười quyển truyện thiếu nhi hàng đầu của Nhà phát hành sách Ottaker).

Roald Dahl và Quentin Blake đã có đóng góp lâu dài và quan trọng cho văn chương thiếu nhi. (Người bảo vệ)

Các truyện khác của Roald Dahl

Chú KLTBTT (Chú Khổng Lồ To Béo Thân Thiện) (The BFG)
Con trai: Truyện về thời niên thiếu (Boy: Tales of Childhood)
Con trai và màn độc tấu (Boy and Going Solo)
Charlie và nhà máy sản xuất sô-cô-la (Charlie and the chocolate factory)
Charlie và chiếc thang máy bằng kính vĩ đại (Charlie and the great glass elavator)
Toàn bộ cuộc phiêu lưu của Charlie và Ông Willy Wonka (The complete adventures of Charlie and Mr Willy Wonka)
Danny nhà vô địch thế giới (Danny The Champion of the World)
Thứ thuốc thần diệu của George (George’s marvellous medicine)
Màn độc tấu (Going solo)
James và cây đào khổng lồ (James and the giant peach)
Mấy mụ phù thủy (The witches)

Truyện dành cho độc giả nhỏ tuổi

Cá sấu bự (The enormous crocodile)
Bài chú mau lớn (Esio Trot)
Ông Cáo diệu kỳ (Fantastic Mr Fox)
Hươu cao cổ, Bồ nông và Tớ (The Giraffe and the Pelly and Me)
Ngón tay thần kỳ (The magic finger)
Vợ chồng nhà Twit (The Twits)

Truyện tranh

Quái vật bẩn thỉu (Dirty beasts – Q.Blake minh họa)
Cá sấu bự (The enormous crocodile – Q.Blake minh họa)
Hươu cao cổ, Bồ nông và Tớ (The Giraffe and the Pelly and Me  – Q.Blake minh họa)
Thế giới người tí hon (The Minpins  – P.Benson minh họa)
Vần vè giễu nhại (Revolting Rhymes  – Q.Blake minh họa)

Kịch

Chú KLTBTT: Kịch cho trẻ em (The BFG: Plays for children – D.Wood biên soạn)
Vở Charlie và nhà máy sản xuất sô-cô-la (Charlie and the chocolate factory: A play – R.George biên soạn)
Vở Ông Cáo diệu kỳ (Fantastic Mr Fox: A play – Sally Reid biên soạn)
Vở James và cây đào khổng lồ (James and the giant peach: A play – R.George biên soạn)
Mấy mụ phù thủy: Kịch cho trẻ em (The witches: Plays for children – D.Wood biên soạn)

Truyện cho thanh thiếu niên

Chiếc máy chỉnh văn phạm tự động vĩ đại và vài chuyện khác (The Great Automatic Grammatizator and Other Stories)
Vè hầm hè (Rhyme Stew)
Tấm da và vài chuyện khác (Skin and Other Stories)
Đức cha xứ Nhanh gọn lẹ (The Vicar of Nibbleswicke)
Câu chuyện kỳ diệu về Henry Sugar và sáu chuyện khác (The wonderful story of Henry Sugar and six more)

Monday, August 26, 2013

Thần Khúc, Phần 1, khúc 1, trang 1

Hình minh họa Dante và cuốn Thần khúc của Michelino

Bản tiếng Latin/Ý

Bản dịch tiếng Anh của Patrick Bannerman, ESQ

1 Half through our mortal life, myself I found
In a dark forest’s wild and rugged ground,
Where the right way was lost in shaggy wood,
4 A rude and savage woodland solitude.
The very thought still robs me of my breath,
And memory counts it little less than death:
7 Of good to treat, discovered in the wood.
I’ll tell of other things I understood.
When the true way was lost, the path forsook,
10 Of sleep so deep that moment I partook
That how I entered I can scarce relate,
So dull the slumber and so dead its weight.
13 But when the mountain’s feet my steps drew near
That closed the vale that filled my heart with fear,
Upward I looked, and saw its shoulders bright
16 Already with that planet’s rays of light
That guides all others through each path aright.
The fear was then subsiding into rest
19 That shook the placid depth within my breasts,
All the night long so saddened and perplexed.
Like one who breathless issues from the waves
22 Turns to the waters he no longer braves,
My spirit, that still flies, turns back to see
The pass that living man ne’er trod but me.

Bản dịch tiếng Việt của Hồ Thượng Tuy

1 Con đường đời tôi đã đi đến nửa
Bỗng thấy mình lạc lối ở trong rừng
Đường chính đạo đánh mất trong bóng tối!
4 Rừng hoang vu, rừng hiểm trở trập trùng
Nói sao hết bao điều cay đắng ấy
Nỗi kinh hoàng trong ký ức tôi mang!
7 Cái chết cũng không đắng cay nhường vậy
Nhưng vì điều hay trong đấy muôn năm
Tôi xin kể về những điều trông thấy.
10 Tôi không nhớ, sao đã lạc vào trong
Rừng hiểm trở vì chìm trong giấc ngủ
Khi lìa xa chính đạo một con đường
13 Nhưng rồi bỗng tới một chân đồi nhỏ
Nơi có một thung lũng nhỏ bao quanh
Tim tôi thắt lại vì run và sợ.
16 Tôi nhìn ra khi ngước mắt trông lên
Ánh sáng mặt trời khắp nơi rực rỡ
Soi tỏ lối đi trên mọi con đường
19 Khi đó trong lòng vơi đi nỗi sợ
Nỗi sợ dài lâu nén ở trong tôi
Như mặt nước qua đêm mệt lử.
22 Và giống như kiệt sức một con người
Thoát lên bờ từ mênh mông biển cả
Ngoái lại nhìn và sợ hãi không thôi.
25 Trong lòng tôi hãy vẫn còn sợ
Quãng đường đi qua, thử ngoái lại nhìn
Chưa từng có một ai đi thoát cả.
Bản dịch tiếng Việt của mình

1 Con đường đời tôi nay đi đã nửa
Cho tới chừng chân bữa lạc rừng sâu,
Chốn u tối không tìm đâu ra lối,
4 Vừa trập trùng vừa nguy hiểm khôn nguôi
Khiến tâm trí chỉ mơ điều khiếp sợ
Còn hơi thở than ôi thì phơ phất!
7 Song tĩnh trí tôi thấy lòng vui sướng
Vì có đi mới biết chuyện tỏ tường.
Rồi đường lui và lối nọ tối dần.
10 Tôi không rõ mình đương tỉnh hay mê
Mà lạc tới chốn ủ ê là vậy
Rừng u tịch nặng nề và chết chóc
13 Rồi chân tôi tới gần hơn ngọn núi
Kề cạnh bên một thung lũng bé con
Tim đập mạnh, tôi ngước mắt lên nhòm
16 Ánh tinh cầu trên cao đang soi tỏ
Rực sáng lên trên mọi ngả rừng hoang
Khiến lòng tôi vơi nỗi sợ hằng mang
19 Làm lắng dịu trái tim từng đập mạnh,
Như mặt nước qua đêm dài tĩnh lặng
Nhẹ nhàng trôi sau bão tố ầm vang
22 Như một người cạn sức giữa biển khơi
Bơi mê mải cho tới nơi bờ bến
Lội lên rồi còn ngoái đầu nhìn lại
25 Quãng đường dài chưa ai thể vượt qua